Tin tức

C

COPYLEFT LÀ GÌ?

Hầu như ngày nay chúng ta đều đã biết tới những thuật ngữ như “bản quyền”, “tác quyền” hay phiên bản gốc trong tiếng Anh của nó là “copyright”. Về khía cạnh quyền tài sản, bản quyền là một độc quyền được cấp cho các tác giả – những người sáng tạo nên một tác phẩm mới, đảm bảo cho họ được thụ hưởng các lợi ích kinh tế từ việc phân phối các bản sao, bản ghị âm, ghi hình của tác phẩm gốc cũng như các tác phẩm phái sinh. Tại những quốc gia có thị trường tiêu thụ sản phẩm văn hóa lớn và truyền thống lâu đời về bản quyền, thông thường những quyền lợi kinh tế này sẽ được các tác giả chuyển giao lại cho các doanh nghiệp đã đầu tư tạo điều kiện sáng tác hoặc đã trả phí tác quyền. Tuy nhiên, không phải tác giả nào cũng có nhu cầu nhận được những khoản lợi nhuận đó. Một số phong trào đã ra đời với mục đích đem những tác phẩm đến với công chúng một cách tự do. Để đáp ứng nhu cầu của những tác giả đó, những loại giấy phép cấp quyền kiểu mới đã ra đời thay thế cho giấy phép chuyển giao tác quyền kiểu cũ. Và điều đó đã tạo nên hiện trạng là có 03 chế độ quyền tác giả đang cùng tồn tại, theo Tài liệu “Giới thiệu truy cập mở” của UNESCO xuất bản năm 2015:

(1)  Copyright, hay như chúng ta vẫn dịch là bản quyền, đồng nghĩa với việc chủ sở hữu “giữ lại tất cả các quyền” (All Rights Reserved);

(2)  Creative Commons, tạm dịch là “Sáng tạo chung”, xuất phát từ một tổ chức phi lợi nhuận thành lập năm 2001 nằm trong một phong trào rộng lớn hơn với mục đích mở rộng số lượng các tài sản sáng tạo mà cộng đồng có thể chia sẻ và tái tạo. Tổ chức đã phát hành một số mẫu giấy phép, nội dung trong đó cho phép chủ sở hữu quyền tác giả giữ lại một số quyền đồng thời trao tặng cho cộng đồng những quyền khác. Một số dự án nổi tiếng sử dụng các giấy phép Creative Commons cho những nội dung được chúng chia sẻ gồm: Flickr, Wikipedia, Internet Archive…

(3)  Copyleft, một cách chơi chữ từ copyright, cùng với lời tuyên bố “All Wrongs Reserved”. Mô hình này là một dạng cấp phép, theo đó tác giả cho phép tất cả mọi người đều có thể sao chép, chỉnh sửa và tái phân phối tác phẩm của mình với điều kiện là tất cả những bản sao hoặc bản phái sinh từ tác phẩm cũng phải tuân theo cùng mô hình. Vì vậy, mọi người đều có thể sử dụng tác phẩm nhưng không ai có thể đăng ký bản quyền và kiếm lợi nhuận từ tác phẩm.

Được bắt nguồn từ phong trào “Phần mềm tự do” với mục tiêu cung cấp những phần mềm cho phép người dùng tùy ý nghiên cứu, cải thiện và chia sẻ lại, mô hình Copyleft hiện vẫn chủ yếu gắn liền với các tài sản sáng tạo là phần mềm máy tính và tài liệu kỹ thuật. Loại giấy phép copyleft ra đời sớm nhất và được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là Giấy phép công cộng GNU (GNU General Public License) cho phép người dùng các phần mềm phát triển từ dự án 4 quyền cơ bản:

        Tự do chạy chương trình, cho bất cứ mục đích nào;

        Tự do tìm hiểu cách hoạt động của chương trình, và tự do sửa đổi nó (Quyền truy cập mã nguồn là điều kiện tiên quyết cho quyền tự do này);

        Tự do tái phân phối bản sao;

        Tự do cải tiến chương trình, và phát hành những gì cải tiến ra công cộng (Quyền truy cập mã nguồn là điều kiện tiên quyết cho quyền tự do này).

Ở Việt Nam, một trong những chương trình phần mềm có số lượng người dùng lớn nhất cũng sử dụng Giấy phép công cộng GNU. Đó là chương trình Unikey hỗ trợ người dùng gõ Tiếng Việt trên phần lớn các hệ điều hành.

       Có thể nói rằng, bên cạnh những lợi ích kinh tế rõ ràng mà một hệ thống bản quyền “đóng” theo truyền thống mang lại cho các tác giả và chủ sở hữu bản quyền, việc tồn tại song song những hệ thống bản quyền “mở” như Copyleft hay Creative Commons đã giúp cân bằng lại những lợi ích chung của cộng đồng, giúp gia tăng số lượng người có thể tiếp cận và tham gia đóng góp cho sự phát triển của tri thức nhân loại.

 

Facebook messengerFacebook messenger
Call Now Button