Tư vấn doanh nghiệp

Picture1

PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP NHƯ THẾ NÀO?

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng, doanh nghiệp nào cũng có ít nhất một người đại diện theo pháp luật dẫn dắt các hoạt động của công ty. Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, các nhà quản lý và các bên liên quan thấu hiểu các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, trong đó có pháp luật về người đại diện là yêu cầu thiết yếu. Vậy pháp luật hiện nay quy định như thế nào về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp?

1. Định nghĩa, đặc điểm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Theo Khoản 1 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020, “người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp mang một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự: người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thay mặt doanh nghiệp xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, do đó phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Thứ hai, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải cư trú tại Việt Nam: doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Khi chỉ còn lại một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam thì người này khi xuất cảnh khỏi Việt Nam phải ủy quyền bằng văn bản cho cá nhân khác cư trú tại Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật. (Khoản 3 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020). Trường hợp hết thời hạn ủy quyền mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác thì thực hiện theo quy định tại Khoản 4 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020.

Tuy nhiên, có trường hợp người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà không có ủy quyền hoặc không thể, không có khả năng thực hiện nhiệm vụ:

Đối với doanh nghiệp chỉ còn một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

Riêng trường hợp với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, trốn khỏi nơi cư trú, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.

Thứ ba, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải hành động nhân danh doanh nghiệp: Trong quản lý doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải hành động nhân danh doanh nghiệp – đại diện đương nhiên cho doanh nghiệp và thay mặt các chủ sở hữu doanh nghiệp để thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp.

Thứ tư, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được xác định theo quy định của Bộ Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, Điều lệ của doanh nghiệp, văn bản thỏa thuận giữa chủ sở hữu doanh nghiệp với người đại diện hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không thể tự đặt ra quyền và nghĩa vụ cho mình.

2. Số lượng và chức danh của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Một doanh nghiệp phải có ít nhất một người đại diện theo pháp luật. Theo quy định khoản 2 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Trường hợp công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật. Nếu Điều lệ công ty không quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ, thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba, tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Về chức danh là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp:

– Chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân.

– Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thì người đại diện theo pháp luật có thể là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì Chủ tịch Hội đồng thành viên là người đại diện theo pháp luật.

– Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty là người đại diện theo pháp luật của công ty.

– Công ty cổ phần: Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp Điều lệ chưa có quy định thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp công ty có hơn một người đại diện theo pháp luật thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty.

– Đối với công ty hợp danh thì thành viên hợp danh sẽ là người đại diện theo pháp luật công ty.

3. Căn cứ xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Hiểu một cách tổng quan thì tư cách pháp lý là tư cách của cá nhân, pháp nhân, tổ chức hay các chủ thể khác khi tham gia vào một hay nhiều quan hệ pháp luật. Theo pháp luật Việt Nam, nếu tư cách đại diện của một người là do pháp luật quy định, hoặc do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được gọi là đại diện theo pháp luật. Ngược lại, nếu tư cách đại diện đó được xác lập theo ý chí của người được đại diện thì được xem là đại diện theo ủy quyền.

Theo quy định của pháp luật dân sự tại Điều 135, Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền đại diện theo pháp luật của pháp nhân được xác lập trên 3 căn cứ: (1) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; (2) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; (3) Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

Facebook messengerFacebook messenger
Call Now Button